Hướng dẫn sử dụng useCallback trong React

React hooks là một phương thức quản lý state mới trong function components, được giới thiệu trong phiên bản React v16.8. Với những hook như useState, useEffect và một số khác. Các nhà phát triển cuối cùng có thể làm việc với các side effects trong các thành phần chức năng.

Trong bài viết lần này, chúng ta sẽ xem xét về useCallback, một trong những hook được giới thiệu từ bản cập nhật của React, và tìm hiểu xem làm thế nào để chúng ta sử dụng useCallback tốt.

Giới thiệu sơ về useCallback

useCallback là được sử dụng để tối ưu quá trình render của React functional components. Nó sẽ rất hữu ích đối với trường hợp một thành phần (component) liên tục được hiển thị lại không cần thiết trong quá trình xử lý sự kiện người dùng và có hành vi chức năng phức tạp. Chúng ta sẽ xem xét thông qua ví dụ đơn giản về cách triển khai hook này để xem cách nó có thể giúp chúng ta đạt hiệu quả thế nào trong quá trình xử lý re-rendering của component.

Hãy nhớ rằng React đã rất nhanh, tối ưu hiệu xuất chỉ nên sử dụng cho những component có khả năng chậm, xử lý tác vụ nặng. Khi đó, chúng ta sẽ xem xét xử dụng useCallback làm một phần hỗ trợ tối ưu hiện xuất trong các hook.

Nào, bây giờ hãy xem xét ví dụ đơn giản qua Counter Component nhé:

import React, { useState, useCallback } from 'react'

function Counter() {
	const [count, setCount] = useState(0);
	const [countOther, setCountOther] = useState(0);
	
	const increase = () => setCount(count + 1);
	const decrease = () => setCount(count - 1);
	
	const increaseOther = () => setCountOther(countOther + 1);
	const decreaseOther = () => setCountOther(countOther + 1);
	
	return (
			<>
				
Count: {count}
Count other: {countOther}
) } export default Counter;

Điều này khá đơn giản, chúng ta có biến 2 state nắm giữ số đếm và 4 hàm để thay đổi con số của 2 state trên.
Tuy nhiên, vấn đề ở đây là mỗi lần thành phần Counter này re-render, tất cả 4 hàm, increase, decrease, increaseOther, decreaseOther sẽ bị khởi tạo lại.

Chúng ta có thể thấy điều đó bằng cách sử dụng Set và thêm các hàm vào bên trong Set mỗi lần Counter re-render. Tại sao lại là Set. Đây là đối tượng lưu trữ phần tử có tính duy nhất, không trùng lặp.

import React, { useState, useCallback } from 'react'

const storeSet = new Set(); 

function Counter() {
	const [count, setCount] = useState(0);
	const [countOther, setCountOther] = useState(0);
	
	const increase = () => setCount(count + 1);
	const decrease = () => setCount(count - 1);
	
	const increaseOther = () => setCountOther(countOther + 1);
	const decreaseOther = () => setCountOther(countOther + 1);
	
	storeSet.add(increase);
	storeSet.add(decrease);
	storeSet.add(increaseOther);
	storeSet.add(decreaseOther);
	
	console.log(storeSet);
	
	return (
			<>
				
Count: {count}
Count other: {countOther}
) } export default Counter;

Nào, bây giờ cùng kiểm tra thử nhé?. Mỗi lần bạn click vào bất kì nút tăng giảm sẽ thấy hiển thị giá trị của storeSet. Bạn sẽ thấy chúng tăng giá trị mỗi lần hiển thị, điều này cho thấy mỗi lần thành phần re-render sẽ tạo ra phiên bản hoàn toàn mới của các hạm được tạo ra.

Về cốt lõi, vấn đề này là do cách JavaScript xác định bình đẳng hàm.

Function Equality trong Javascript

Hãy xem ví dụ bên dưới trong đó chúng ta có hàm factory đang trả về một hàm khác.

function factory() {
	return (a,b) => a + b;
}

const functionA = factory();
const functionB = factory();

functionA(1,2); // 3
functionB(1,2); // 3

console.log(functionA === functionB) // false
console.log(functionA === functionA) // true

Tại đây, chúng ta tạo ra functionAfunctionB thông qua factory(). Bạn có thể tìm hiểu thêm về hàm trong JavaScript thông qua First-class Function, nghĩa là chúng được thể hiện dưới dạng các đối tượng thông thường. Đối tượng hàm có thể trả về một hàm khác (giống như hàm factory).

Bạn có thể thấy rằng, mặc dù functionAfunctionB đều đến từ cùng một hàm factory và cùng làm một việc. chúng vốn dĩ là các đối tượng khác nhau, vì vậy, chúng không thể bằng nhau. Bất kì hàm JavaScript nào chỉ có thể bằng chính nó.

Bây giờ cùng trở lại với React, khi một thành phần re-render, mọi hàm bên trong nó sẽ bị recreated. useCallback làm cho nó có thể được memoize lại (hay là cache) instance hàm giữa những lần render. Điều này có ý nghĩa thay vì tạo lại đối tượng hàm mới, chúng ta có thể sử dụng lại cùng một đối tượng giữa các lần hiển thị.

Hãy cùng cập nhật cho các hàm increase/decrease sử dụng useCallback

const increase = useCallback(() => setCount(count + 1), [count]);
const decrease = useCallback(() => setCount(count - 1), [count]);
	
const increaseOther = useCallback(() => setCountOther(countOther + 1), [countOther]);
const decreaseOther = useCallback(() => setCountOther(countOther + 1), [countOther]);

Lưu ý, cách chúng ta sử dụng tham số bên trong mảng, phụ thuộc vào một trong các tham số bên trong hàm useCallback. Miễn là các giá trị trong mảng phụ thuộc giống nhau giữa các lần hiển thị, React sẽ tiếp tục sử dụng phiên bản được memoized (cached) của hàm. Nếu các giá trị bên trong mảng phụ thuộc, thay đổi giữa các lần hiển thị, React sẽ tạo lại hàm.

Trong trường hợp này, khi chúng ta thử ấn button increase phía trên sau khi bọc các hàm setState lại bằng useCallback, kiểm tra hiển thị giá trị của storeSet chúng ta chỉ thấy duy nhất có một giá trị được tăng thêm, tiếp tục ấn button increase chúng ta vẫn không thấy giá trị thay đổi.

Mặc dù đây là một ví dụ rất đơn giản, nhưng chúng ta có thể thấy cách sử dụng useCallback để tối ưu hóa các thành phần có các chức năng phức tạp hoặc tốn nhiều tài nguyên.

Khi nào không nên sử dụng useCallback

Tuy nhiên, hãy đảm bảo rằng điều này không đi quá đà. useCallback cũng sỡ hữu nhược điểm,, chủ yếu là độ phức tạp của mã. Ở đây có rất nhiều trường hợp không hợp lý khi thêm useCallback và chúng ta phải chấp nhận để hàm khởi tạo lại. Như đã nói, useCallback cũng sở hữu nhược điểm về hiệu xuất, vì nó vẫn phải chạy trên mọi thành phần render.

Trong ví dụ này, useCallback thực chất sẽ không giúp tối ưu, vì chúng ta tạo đang tạo xử lý handleClick cho cả quá trình render của thành phần khác.


const ComponentA = () => {
	const [count, setCount] = useState(0)
	const handleClick = useCallback(() => setCount(count + 1), [count]);
	
	return 
}

const ButtonWrap = ({children, ...props}) => {
	return 
}

Trong trường hợp này, useCallback sẽ không phát huy được nhiều tác dụng của nó.

Khi nghĩ về các nâng cấp hiệu xuất như sử dụng useCallback, luôn phải đo lường tốc độ của các thành phần component của bạn trước khi bắt đầu tối ưu hoá chúng. Việc tối ưu hoá không cần thiết sẽ khiến code của bạn trở nên rườm rà, phức tạp và có thể khó bảo trì về sau.

Kết luận

useCallback là một react hook mạnh mã để tối ưu hoá React component phức tạp bởi vì chúng sẽ lưu trữ lại các hàm giữa những lần render.

Trước khi làm việc với useCallback, đảm bảo bạn đã phân tích những điều sau:

  • Tốc độ tăng có đảm bảo độ phức tạo của vẫn giữ được ở mức cần thiết ?
  • Sử dụng useCallback có đảm bảo tăng tốc độ cho thành phần được sử dụng?
ĐÁNH GIÁ post
Bài viết liên quan

Tư vấn miễn phí (24/7) 094 179 2255