Triazole – Nhóm thuốc trừ nấm Tình hình sử dụng hóa chất trong kiểm sốt bệnh – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.5 MB, 88 trang )

Có nhiều cách phân loại thuốc bảo vệ thực vật, nhƣng thƣờng phân loại theo đối tƣợng phòng trừ nhƣ: Thuốc trừ sâu, trừ bệnh, trừ cỏ, trừ chuột, trừ nhện, trừ ốc
sên, thuốc điều tiết sinh trƣởng cây trồng,… Trong mỗi nhóm trên, thƣờng phân ra các nhóm nhỏ hơn theo gốc hóa học. Nhƣ thuốc trừ bệnh gồm có 2 nhóm lớn là
nhóm vơ cơ và nhóm hữu cơ. Nhóm vơ cơ nhƣ nhóm đồng, nhóm lƣu huỳnh, nhóm thủy ngân. Nhóm hữu cơ nhƣ nhóm lân hữu cơ, nhóm Carbamate, nhóm
Dithiocarbamate, nhóm Triazole. Ngồi ra còn có nhóm Dicarboximit, nhóm thuốc sinh học Phạm Văn Biên và ctv, 2006.

2.4.2. Triazole – Nhóm thuốc trừ nấm

Nhóm thuốc Triazole là những thuốc trừ nấm thế hệ mới nhất, có tính chọn lọc cao, nội hấp, hiệu lực mạnh, đang đƣợc phát triển và sử dụng nhiều. Nó là nhóm
thuốc có tác dụng kìm hãm sinh tổng hợp ergosterol, liều sử dụng thấp, ít độc với ngƣời và gia súc. Nó thuộc nhóm chất lƣu dẫn, đƣợc cây hấp thu qua rễ, thân, lá và
dịch chuyển đến các bộ phận khác qua hệ thống bó mạch. Thuốc lƣu dẫn theo hƣớng lên và hiếm khi từ trên xuống. Các loại thuốc này hiệu quả trong phòng cũng
nhƣ trị bệnh Phan Thành Dũng, 2004; Phạm Văn Biên và ctv, 2006. Cơ chế tác động của thuốc nhóm Triazole là kìm hãm q trình sinh tổng hợp
ergosterol thông thƣờng sự phá hoại của vật gây bệnh tăng khi có hàm lƣợng ergosterol tăng, ngăn cản sự hình thành rễ bám hay giác mút, sự sinh trƣởng của
tản nấm và sự hình thành bào tử. Các thuốc này xâm nhập và dịch chuyển trong cây rất nhanh Nguyễn Trần Oánh, 1997.
Công thức cấu tạo của gốc Triazole nhƣ sau:
Các thuốc nhóm Triazole có tính nội hấp, thuốc nhanh chóng thấm qua bề mặt và phân bố đều trong lá, lƣu dẫn mạnh trực tiếp đến các vết bệnh nơi nấm xâm
nhập. Hiệu quả của thuốc kéo dài nhờ vào đặc tính phòng bệnh ngăn chặn sự xâm nhập của nấm bệnh, trị bệnh chặn đứng sự tiến triển của nấm bệnh và diệt triệt để
nấm đã xâm nhập và các bào tử mới. Thuốc đạt hiệu quả phòng trị cao, giảm chi phí cơng lao động và số lần phun. Ví dụ thuốc Opus 75EC là thuốc trừ nấm thế hệ
mới với hoạt chất Epoxiconazole, sản phẩm của Cơng ty BASF Cộng hòa Liên bang Đức. Opus 75EC còn kích thích cơ chế tự kháng bệnh của cây, giúp dƣỡng
cây xanh lá. Thuốc Sumi-Eight 12 là thuốc trừ nấm phổ rộng với hoạt chất Diniconazole còn có tác dụng dƣỡng cây, cây khỏe, bộ lá xanh hơn, tăng khả năng
chống chịu sâu bệnh. http:www.cuctrongtrot.gov.vn

2.4.3. Tình hình sử dụng hóa chất trong kiểm sốt bệnh rụng lá Corynespora

Sử dụng hóa chất là chiến lƣợc quản lý bệnh có hiệu quả nhanh nhất, nó đƣợc áp dụng trong hầu hết các lĩnh vực trồng trọt, đƣợc nông dân áp dụng phổ biến và có
khả năng đem lại kết quả tốt. Mặc dù đã có những báo cáo liên quan đến giá trị và ảnh hƣởng xấu của hóa chất bảo vệ thực vật tới môi trƣờng, nông dân vẫn tiếp nhận
nó. Các phƣơng pháp sinh học trong kiểm sốt bệnh, bao gồm cả thao tác di truyền, đã đƣợc ủng hộ trong vài thập kỷ qua, nhƣng thuốc hóa học vẫn chƣa bị loại bỏ
trong chƣơng trình quản lý bệnh thực vật. Phƣơng pháp kết hợp cả sinh học lẫn hóa học trong quản lý bệnh đang đƣợc áp dụng rộng rãi.
Để kiểm soát bệnh cho những cây trồng giá trị cao, cung cấp cho các ngành công nghiệp vật liệu nhƣ cao su thì hóa chất bảo vệ thực vật vẫn có thể còn đƣợc sử
dụng trong thời kỳ lâu dài, bởi vì các hóa chất hầu nhƣ không nhiễm vào sản phẩm của cây cao su, do đó khơng ảnh hƣởng trực tiếp đến ngƣời tiêu dùng.
Trong các vùng trồng cao su nhƣ Ấn Độ, việc sử dụng hóa chất để kiểm soát bệnh đã đƣợc thực hiện gần một thế kỷ. Bệnh nấm hồng gây bởi Corticium
salmonicolor và bệnh rụng lá mùa mƣa gây bởi Phytophthora spp đƣợc kiểm soát bởi thuốc trừ nấm đã đƣợc đề ra và áp dụng rộng rãi ngay từ năm 1910 ở Ấn Độ và
Sri Lanka.
Kiểm sốt bằng thuốc hóa học với bệnh rụng lá Corynespora đã đƣợc giới thiệu khi bệnh xuất hiện lần đầu tiên trên vƣờn ƣơm ở Ấn Độ khoảng năm 1958. Việc
phun hỗn hợp Bordeaux 1 hay Zineb 0,24 với lƣợng phun 2 lần trong 3 tuần, trong suốt khoảng thời gian của mùa bệnh đã đƣợc đề ra để kiểm soát bệnh.
Cả 2 loại thuốc trừ nấm tiếp xúc và lƣu dẫn đều đƣợc thử nghiệm rộng rãi trong phòng thí nghiệm và ngoài vƣờn ƣơm. Trong các thử nghiệm in vitro chỉ ra rằng
Carbendazim ức chế mầm bệnh phát triển hoàn toàn ở nồng độ 25 ppm a.i.. Trong thí nghiệm trên vƣờn ƣơm Mancozeb 0,2, Carbendazim 0,5 và tổ hợp
Metalaxyl + Mancozeb 0,2 đều có hiệu quả phòng trị bệnh. Manju, 2006 Các loại thuốc đã đƣợc báo cáo có hiệu quả phòng trị nấm C. cassiicola là:
Nhóm thuốc tiếp xúc nhƣ: Bordeaux, Mancozeb, Captafol, Chlorothalonil. Nhóm thuốc lƣu dẫn nhƣ: Carbendazim, Tridemorph, Hexaconazole.
Các thuốc hỗn hợp nhƣ: Metalaxyl + Mancozeb 0,2, Benomyl và Thiram, Copperoxychloride 21 + Mancozeb 20, Propineb 56 + Oxadixyl 10,
Mancozeb 63 + Carbendazim 12, Hexaconazole + Captan, Difenoconazole cũng đƣợc báo cáo có hiệu quả phòng trị bệnh. Srinivas và Idicula, 2006
Chƣơng 3 VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP

3.1. Thời gian và địa điểm tiến hành

Nhóm thuốc Triazole là những thuốc trừ nấm thế hệ mới nhất, có tính chọn lọc cao, nội hấp, hiệu lực mạnh, đang đƣợc phát triển và sử dụng nhiều. Nó là nhómthuốc có tác dụng kìm hãm sinh tổng hợp ergosterol, liều sử dụng thấp, ít độc với ngƣời và gia súc. Nó thuộc nhóm chất lƣu dẫn, đƣợc cây hấp thu qua rễ, thân, lá vàdịch chuyển đến các bộ phận khác qua hệ thống bó mạch. Thuốc lƣu dẫn theo hƣớng lên và hiếm khi từ trên xuống. Các loại thuốc này hiệu quả trong phòng cũngnhƣ trị bệnh Phan Thành Dũng, 2004; Phạm Văn Biên và ctv, 2006. Cơ chế tác động của thuốc nhóm Triazole là kìm hãm q trình sinh tổng hợpergosterol thông thƣờng sự phá hoại của vật gây bệnh tăng khi có hàm lƣợng ergosterol tăng, ngăn cản sự hình thành rễ bám hay giác mút, sự sinh trƣởng củatản nấm và sự hình thành bào tử. Các thuốc này xâm nhập và dịch chuyển trong cây rất nhanh Nguyễn Trần Oánh, 1997.Công thức cấu tạo của gốc Triazole nhƣ sau:Các thuốc nhóm Triazole có tính nội hấp, thuốc nhanh chóng thấm qua bề mặt và phân bố đều trong lá, lƣu dẫn mạnh trực tiếp đến các vết bệnh nơi nấm xâmnhập. Hiệu quả của thuốc kéo dài nhờ vào đặc tính phòng bệnh ngăn chặn sự xâm nhập của nấm bệnh, trị bệnh chặn đứng sự tiến triển của nấm bệnh và diệt triệt đểnấm đã xâm nhập và các bào tử mới. Thuốc đạt hiệu quả phòng trị cao, giảm chi phí cơng lao động và số lần phun. Ví dụ thuốc Opus 75EC là thuốc trừ nấm thế hệmới với hoạt chất Epoxiconazole, sản phẩm của Cơng ty BASF Cộng hòa Liên bang Đức. Opus 75EC còn kích thích cơ chế tự kháng bệnh của cây, giúp dƣỡngcây xanh lá. Thuốc Sumi-Eight 12 là thuốc trừ nấm phổ rộng với hoạt chất Diniconazole còn có tác dụng dƣỡng cây, cây khỏe, bộ lá xanh hơn, tăng khả năngchống chịu sâu bệnh. http:www.cuctrongtrot.gov.vnSử dụng hóa chất là chiến lƣợc quản lý bệnh có hiệu quả nhanh nhất, nó đƣợc áp dụng trong hầu hết các lĩnh vực trồng trọt, đƣợc nông dân áp dụng phổ biến và cókhả năng đem lại kết quả tốt. Mặc dù đã có những báo cáo liên quan đến giá trị và ảnh hƣởng xấu của hóa chất bảo vệ thực vật tới môi trƣờng, nông dân vẫn tiếp nhậnnó. Các phƣơng pháp sinh học trong kiểm sốt bệnh, bao gồm cả thao tác di truyền, đã đƣợc ủng hộ trong vài thập kỷ qua, nhƣng thuốc hóa học vẫn chƣa bị loại bỏtrong chƣơng trình quản lý bệnh thực vật. Phƣơng pháp kết hợp cả sinh học lẫn hóa học trong quản lý bệnh đang đƣợc áp dụng rộng rãi.Để kiểm soát bệnh cho những cây trồng giá trị cao, cung cấp cho các ngành công nghiệp vật liệu nhƣ cao su thì hóa chất bảo vệ thực vật vẫn có thể còn đƣợc sửdụng trong thời kỳ lâu dài, bởi vì các hóa chất hầu nhƣ không nhiễm vào sản phẩm của cây cao su, do đó khơng ảnh hƣởng trực tiếp đến ngƣời tiêu dùng.Trong các vùng trồng cao su nhƣ Ấn Độ, việc sử dụng hóa chất để kiểm soát bệnh đã đƣợc thực hiện gần một thế kỷ. Bệnh nấm hồng gây bởi Corticiumsalmonicolor và bệnh rụng lá mùa mƣa gây bởi Phytophthora spp đƣợc kiểm soát bởi thuốc trừ nấm đã đƣợc đề ra và áp dụng rộng rãi ngay từ năm 1910 ở Ấn Độ vàSri Lanka.Kiểm sốt bằng thuốc hóa học với bệnh rụng lá Corynespora đã đƣợc giới thiệu khi bệnh xuất hiện lần đầu tiên trên vƣờn ƣơm ở Ấn Độ khoảng năm 1958. Việcphun hỗn hợp Bordeaux 1 hay Zineb 0,24 với lƣợng phun 2 lần trong 3 tuần, trong suốt khoảng thời gian của mùa bệnh đã đƣợc đề ra để kiểm soát bệnh.Cả 2 loại thuốc trừ nấm tiếp xúc và lƣu dẫn đều đƣợc thử nghiệm rộng rãi trong phòng thí nghiệm và ngoài vƣờn ƣơm. Trong các thử nghiệm in vitro chỉ ra rằngCarbendazim ức chế mầm bệnh phát triển hoàn toàn ở nồng độ 25 ppm a.i.. Trong thí nghiệm trên vƣờn ƣơm Mancozeb 0,2, Carbendazim 0,5 và tổ hợpMetalaxyl + Mancozeb 0,2 đều có hiệu quả phòng trị bệnh. Manju, 2006 Các loại thuốc đã đƣợc báo cáo có hiệu quả phòng trị nấm C. cassiicola là:Nhóm thuốc tiếp xúc nhƣ: Bordeaux, Mancozeb, Captafol, Chlorothalonil. Nhóm thuốc lƣu dẫn nhƣ: Carbendazim, Tridemorph, Hexaconazole.Các thuốc hỗn hợp nhƣ: Metalaxyl + Mancozeb 0,2, Benomyl và Thiram, Copperoxychloride 21 + Mancozeb 20, Propineb 56 + Oxadixyl 10,Mancozeb 63 + Carbendazim 12, Hexaconazole + Captan, Difenoconazole cũng đƣợc báo cáo có hiệu quả phòng trị bệnh. Srinivas và Idicula, 2006Chƣơng 3 VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP

ĐÁNH GIÁ post
Bài viết liên quan

Tư vấn miễn phí (24/7) 094 179 2255