Người Ngái – Wikipedia tiếng Việt

Người Ngái
正在使用艾灸的太原艾人.jpgNgười Ngái ở xã Hoá Thượng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Khu vực có số dân đáng kể
Việt Nam: phân bố rải rác tại nhiều tỉnh
Ngôn ngữ
Tiếng Việt, Ngái
Tôn giáo
Phật giáo Tiểu thừa

Người Ngái (tên gọi khác là Ngái Hắc Cá, Hẹ, Lầu Mần, Sín, Đản, )[1] là một dân tộc sinh sống tại Việt Nam và được công nhận trong 54 dân tộc Việt Nam.[2][3] Theo nghiên cứu của học giả Hà Hợp Dương Thượng, học giả Ngô Vân Hà và đồng sự, người Ngái là người Khách Gia đến từ các vùng Quảng Đông Quảng Tây Trung Quốc, ngoài ra còn có người Mân và người Đản cấu thành nên người Ngái ở Việt Nam, nhưng chủ yếu vẫn là người Khách Gia [4]. Điều đặc biệt lưu ý rằng không phải tất cả người Khách Gia ở Việt Nam đều là người Ngái, từ sau năm 1840 những người Khách Gia di cư vào Việt Nam đều được xếp vào dân Tộc Hoa.[5]

bản văn học của dân tộc bản địa Ngái

Tiếng mẹ đẻ của người Ngái là tiếng Ngái, 1 phương ngôn trong tiếng Khách Gia[6]. Tiếng nói của họ thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán- Tạng).[7]Tiếng Ngái có thể chia thành 2 phương ngữ, Ngũ Thông Ngái 五硐𠊎(đến từ Naliang, Nashu, Đồng Tôn, Hồ Long, Thái Lục, Phòng Thành, Tansan v.v.) và Thay Trọng Ngái 大眾𠊎 (đến từ Huệ Châu, Đông Quan, Phật Sơn) .[8]

Dân số và địa phận cư trú[sửa|sửa mã nguồn]

Người Ngái cư trú rải rác ở nhiều tỉnh thành. Theo số liệu tìm hiểu dân số năm 1999 thì tại Nước Ta có 4.841 người Ngái. Các tỉnh thành tập trung chuyên sâu đông nhất là : Thái Nguyên, Bắc Giang, Đồng Nai, Tuyên Quang, Cao Bằng, TP Lạng Sơn, Đắk Lắk, Bình Thuận, Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh … Miếu Quan Âm Hộ Quốc ở Q. Tân Phú là khu vực hoạt động và sinh hoạt tâm linh chính của người Ngái ở TP.HCM.
Miếu Quan Âm Hộ Quốc ở Q. Tân Phú, TP Hồ Chí MinhTheo Tổng tìm hiểu dân số và nhà ở năm 2009, người Ngái ở Nước Ta chỉ còn 1.035 người, xuất hiện ở 27 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Ngái cư trú tập trung chuyên sâu tại những tỉnh :

Đặc điểm kinh tế tài chính[sửa|sửa mã nguồn]

Bữa cơm của người NgáiNgười Ngái sống hầu hết bằng nghề làm ruộng trồng lúa. Ở vùng hải đảo, ven biển thì đánh cá là chính. Họ có truyền thống lịch sử đào kênh, mương, đắp đập, tạo hồ nước, đắp đê biển, có những nghề thủ công bằng tay như dệt chiếu, làm mành trúc, rèn, mộc, nung vôi, làm gạch ngói .Việc gieo trồng mùa vụ trong năm của họ địa thế căn cứ vào những hiện tượng kỳ lạ tự nhiên như : tiếng chim hót, lá cây rụng, hoa nở, … Họ xây những mương đập dài vài chục km để tưới tiêu. Người Ngái ở thành phố Hồ Chí Minh làm những nghề tiểu thủ công nghiệp như giày dép, tập trung chuyên sâu ở Q. 11, Tân Bình, Tân Phú, những kinh doanh nhỏ lẻ Chợ Lớn. Một số đã thành những doanh nghiệp lớn trong ngành giày dép, cao su đặc, …

Hôn nhân mái ấm gia đình[sửa|sửa mã nguồn]

Trong gia đình, người chồng là trụ cột chính, bình đẳng giữa vợ chồng và các mối quan hệ. Con cháu hòa thuận, hiếu thảo bề trên các bậc trưởng bối.
Xưa kia, trai gái Ngái được cha mẹ dựng vợ gả chồng phải trải qua hai lần cưới: lễ thành hôn và lễ nhập phòng. Để cưới vợ cho con, nhà trai chủ động chọn tìm đối tượng dạm hỏi. Khi có thai, phụ nữ Ngái kiêng cữ rất cẩn thận: không ăn ốc, thịt bò, dê, không may vá hay mua quần áo. Sau khi sinh con 60 ngày đối với con đầu, 40 ngày đối với con thứ, người sản phụ mới được đến nhà mẹ đẻ của mình.

Họ nhà vợ, đại diện thay mặt là ông cậu có vai trò quan trọng trong mái ấm gia đình người Ngái. Ông cậu gọi là khảo, được coi như người cha của những chị em gái trong mái ấm gia đình. Khi những cháu gái sinh con, khảo đặt tên cho những cháu ngoại .

Tục lệ ma chay[sửa|sửa mã nguồn]

Theo phong tục Ngái, người chết được tổ chức triển khai đám ma chu đáo. Sau khi chôn cất được cúng vào dịp 21 ngày, 35 ngày, 42 ngày, 49 ngày, 63 ngày, 70 ngày, 3 năm thì làm lễ đoạn tang .
Người Ngái có lối hát giao duyên nam nữ, gọi là Sường cô, rất đa dạng chủng loại. Có thể hát đối nhau 5 đến 7 đêm liền vẫn không bị trùng lặp. Tục ngữ có ý nghĩa răn dạy về kinh nghiệm tay nghề làm ăn, về cách sống. Nhiều game show được ưa thích như múa sư tử, múa gậy, chơi rồng rắn .
Nhà cửa của người NgáiNgười Ngái thường lập thôn xóm ở sườn đồi, thung lũng hoặc ven biển, trên hòn đảo. Nhà thông dụng là nhà ba gian hai chái

Trang phục Ngái giống người Hoa (Hán).[1] Ngoài quần áo, họ còn đội mũ, nón các loại tự làm từ lá, mây tre, đồng thời đội khăn, che ô.

Xem thêm
  • Các dân tộc ít người ở Việt Nam. Hà Nội, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. 1978. “Dân tộc Hoa”: trang 388-395
  • Grant Evants (2000). Where China meets Southeast Asia: Social & Cultural Change in the Border Region. Palgrave Macmillan. ISBN 9780312236342. Chapter 13: Cross-Border Categories: Ethnic Chinese and the Sino-Vietnamese Border at Mong Cai
ĐÁNH GIÁ post
Bài viết liên quan

Tư vấn miễn phí (24/7) 094 179 2255