Natri borohydride – Wikipedia tiếng Việt

Bohydride natri hay natri bohydride, tetrahydroborat natri hoặc natri tetrahydroborat là một hợp chất vô cơ có công thức hóa học NaBH4. Ở nhiệt độ phòng, nó là chất rắn màu trắng, thường gặp dưới dạng bột, là tác nhân khử chuyên ngành được sử dụng trong sản xuất dược phẩm cũng như các hợp chất hữu cơ và vô cơ khác. Nó hòa tan trong metanol và nước, nhưng phản ứng với cả hai khi không có mặt base[2].

Hợp chất này được H. I. Schlessinger phát hiện trong thập niên 1940, khi ông là người đứng vị trí số 1 nhóm tăng trưởng những loại bohydride sắt kẽm kim loại cho những ứng dụng thời chiến [ 3 ] .
Bohydride natri được điều chế bằng phản ứng của natri hydride với trimetylborat ở 250 – 270 ℃ :

B(OCH3)3 + 4NaH → NaBH4 + 3NaOCH3

Nó cũng có thể tạo ra từ phản ứng của NaH với thủy tinh bosilicat dạng bột[4]

NaBH4 hoàn toàn có thể được tái kết tinh bằng cách hòa tan trong diglyme ( ete bis ( 2 – methoxyethyl ) ) ấm ( 50 ℃ ) sau đó làm nguội dung dịch [ 5 ] .

Các ứng dụng tổng hợp hữu cơ[sửa|sửa mã nguồn]

Bohydride natri khử những andehit và xeton thành rượu, cũng như những dẫn xuất của những axit carboxylic hoạt hóa hơn như những acyl chloride và thiol este. Tuy nhiên, không giống như tác nhân khử mạnh hydride nhôm lithi, sử dụng duy nhất của NaBH4 với những điều kiện kèm theo phản ứng vừa phải sẽ không khử những este, amit hoặc những axit carboxylic [ 2 ]. Một ví dụ của sử dụng bohydride natri là sản xuất công nghiệp của fexofenadin, trong đó có một quy trình khử [ 6 ] :

Các tác nhân khử tương quan[sửa|sửa mã nguồn]

Độ hoạt động của các tác nhân khử bohydride có thể được giảm đi bởi sự ổn định liên kết bo-hydride. Điều này có thể thực hiện bằng cách gắn một các nhóm lớn về mặt không gian hoặc các nhóm thu hút electron. Các nhóm axetyl (natri triaxetoxybohydride, (NaBH(OCOCH3)3) hoặc cyano (natri cyanobohydride (NaCNBH3)) đã từng được sử dụng cho mục đích này. Kết quả là chúng có ứng dụng trong phản ứng amin hóa khử. Tại đây, trung gian imin phải được khử chọn lọc trong sự hiện diện của vật liệu khởi động là anđehyt hoặc xeton.

Các tác nhân khử mạnh hơn có thể sinh ra bằng cách gây mất ổn định liên kết bo-hydride. Nó được tìm thấy trong các hợp chất như các siêu hydride (trietylbohydride lithi) và L-selectride (tri-sec-butylbohydride lithi)[7]

Các phản ứng khác[sửa|sửa mã nguồn]

oxy hóa NaBH4 bằng iod trong tetrahydrofuran tạo ra phức chất BH3 – THF, hoàn toàn có thể khử được những este. Tương tự như hệ NaBH4 – MeOH, tạo thành bằng cách bổ trợ metanol vào bohydride natri trong THF chảy ngược khử những este thành những rượu tương ứng, ví dụ điển hình benzyl benzoat thành rượu benzyl [ 8 ] .

BH4− là một phối thể tốt cho các ion kim loại. Các phức chất bohydride như thế thông thường được điều chế bằng phản ứng của NaBH4 (hoặc LiBH4) đối với các halide kim loại tương ứng, chẳng hạn Zr(BH4)4.

Tế bào nguyên vật liệu[sửa|sửa mã nguồn]

Bohydride natri cũng được sử dụng trong những mạng lưới hệ thống tế bào nguyên vật liệu thực nghiệm. Là nguyên vật liệu, nó ít dễ bắt cháy và ít bay hơi hơn so với xăng nhưng có tính ăn mòn cao hơn. Nó tương đối thân thiện thiên nhiên và môi trường do độc tính thấp của những borat. Hydro được sinh ra cho những tế bào nguyên vật liệu bằng phân hủy có chất xúc tác trong dung dịch nước của bohydride :

NaBH4 + 2H2O → NaBO2 + 4H2↑

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

ĐÁNH GIÁ post
Bài viết liên quan

Tư vấn miễn phí (24/7) 094 179 2255