Mujahideen – Wikipedia tiếng Việt

Mujahideen hoặc mujahidin (tiếng Ả Rập: مجاهدين‎, mujāhidīn là hình thức số nhiều của Mujahid tiếng Ả Rập: مجاهد‎, ‘người tham gia thánh chiến’), một thuật ngữ tiếng Ả Rập nói chung về những người du kích Hồi giáo tham gia vào jihad (cuộc thánh chiến), cuộc chiến nhân danh Hồi giáo / Allah hoặc cộng đồng Hồi giáo (ummah).[1][2][3] Thuật ngữ tiếng Anh jihadist tương ứng với nó về mặt ngữ pháp.[4][5]

Việc sử dụng thoáng đãng từ này mở màn tương quan đến những nhóm chiến binh kiểu du kích do những chiến binh Afghanistan Hồi giáo chỉ huy trong Chiến tranh Afghanistan-Liên Xô ( xem Afghanistan mujahideen ). Thuật ngữ này hiện lan rộng ra cho những nhóm thánh chiến khác ở nhiều vương quốc khác nhau như Myanmar ( Miến Điện ), Síp và Philippines. [ 6 ] [ 7 ]

Lịch sử khởi đầu[sửa|sửa mã nguồn]

Về nguồn gốc, từ tiếng Ả Rập mujahideen dùng để chỉ bất kỳ người nào thực hiện thánh chiến.[8][9][10] Theo nghĩa hậu cổ điển của nó, thánh chiến đề cập đến một hành động có thể so sánh về mặt tinh thần với việc quảng bá đạo Hồi vào đầu những năm 600 CN. Những hành động này có thể đơn giản như chia sẻ một phần thu nhập đáng kể của một người với người nghèo.

Định nghĩa của phương Tây văn minh[sửa|sửa mã nguồn]

Thuật ngữ hiện đại của mujahideen đề cập đến các chiến binh Hồi giáo tinh thần bắt nguồn từ thế kỷ 19, khi thuật ngữ này ngày càng được xác định với phong trào phục hưng dân quân của Sayyid Aḥmad Baralawī (hoặc Brelvi), người tự phong là mujāhidīn đã chiến đấu chống lại cả sự bành trướng của đạo Sikh và quyền lực tối cao của Anh ở Ấn Độ..[11] Trong thời kỳ này, các thủ lĩnh bộ tộc Pashtun ở Afghanistan đã chiến đấu chống lại những nỗ lực của người Anh nhằm tấn công lãnh thổ Pashtun (mặc dù ban đầu người Anh gọi họ là những người cuồng tín Sitana). Những cuộc chiến này bắt đầu vào năm 1829 khi Baralawī trở về làng Sitana từ một cuộc hành hương đến Mecca và bắt đầu rao giảng cuộc chiến chống lại ‘những kẻ ngoại đạo’ trong khu vực xác định biên giới Tây Bắc của Ấn Độ thuộc Anh. Mặc dù ông đã chết trong trận chiến, giáo phái do ông tạo ra vẫn tồn tại và các du kích Hồi giáo ngày càng có thêm sức mạnh và sự nổi bật.

Thuật ngữ này liên tục được sử dụng trên khắp Ấn Độ cho cuộc kháng chiến của người Hồi giáo chống lại chủ nghĩa thực dân và Raj thuộc Anh. [ 12 ] Trong Cuộc nổi dậy Ấn Độ năm 1857, những chiến binh thánh thiện này được cho là gật đầu bất kể Sepoys nào bỏ trốn và tuyển họ vào hàng ngũ của mình. Thời gian trôi qua, giáo phái này ngày càng vững mạnh cho đến khi nó không chỉ thực thi những cuộc truy quét băng cướp mà thậm chí còn còn trấn áp những khu vực ở Afghanistan. [ 13 ]

Mujahideen đầu tiên được biết đến để chỉ những gì ngày nay được gọi là các chiến binh thánh chiến được Thomas Patrick Hughes (1838–1911) sử dụng vào cuối thế kỷ 19, vào năm 1887.[14][15]

Tại Trung Á từ năm 1916 đến những năm 1930, quân du kích Hồi giáo là đối thủ của Sa hoàng và những người Bolshevik và được Liên Xô gọi là basmachi (‘kẻ cướp’). Những nhóm này tự gọi mình là mojahed, tự mô tả mình là đại diện cho đạo Hồi.[16][17] Những người ủng hộ mujahideen khác bao gồm Usman dan Fodio,[18] Jahangir Khoja,[19] and Muhammad Ahmed Al Mahdi.[20][21][22]

Thời kỳ Chiến tranh Lạnh[sửa|sửa mã nguồn]

Trong thế kỷ 20, thuật ngữ mujahideen được sử dụng phổ biến nhất ở Iran và Afghanistan.[23]

Cách thể hiện hiện đại của jihadism với thánh chiến (tấn công hoặc phòng thủ) như Belli casus cho quân nổi dậy, chiến tranh du kích, và chủ nghĩa khủng bố quốc tế, đã có nguồn gốc từ thế kỷ 20 và dựa trên học thuyết Hồi giáo trong giai đoạn đầu đến giữa thế kỷ 20 như Qutbism.

Tuy nhiên, cái tên này có liên quan chặt chẽ nhất với mujahideen ở Afghanistan, một liên minh các nhóm du kích ở Afghanistan chống lại lực lượng Liên Xô xâm lược và cuối cùng lật đổ chính phủ cộng sản Afghanistan trong Chiến tranh Afghanistan (1978–92). Các phe đối địch sau đó đã tự tan rã, dẫn đến sự trỗi dậy của Taliban và Liên minh phương Bắc đối lập. Giống như thuật ngữ jihad — mà nó được kết nối từ vựng — cái tên này đã được sử dụng khá tự do, cả trên báo chí và chính các chiến binh Hồi giáo, và thường được sử dụng để chỉ bất kỳ nhóm Hồi giáo nào tham gia vào các cuộc thù địch với những người không theo đạo Hồi hoặc thậm chí với các chế độ Hồi giáo thế tục hóa.

Có thể cho rằng những mujahideen nổi tiếng nhất bên ngoài quốc tế Hồi giáo là những nhóm trái chiều Afghanistan khác nhau, với link lỏng lẻo. Đây là những người khởi đầu đã nổi dậy chống lại cơ quan chính phủ Cộng hòa Dân chủ Afghanistan thân Liên Xô ( DRA ) vào cuối những năm 1970. Theo nhu yếu của DRA, Liên Xô đã đưa lực lượng vào nước này để viện trợ cho chính phủ nước nhà vào năm 1979. Các mujahideen đã chiến đấu chống lại quân đội Liên Xô và DRA trong Chiến tranh Liên Xô-Afghanistan ( 1979 – 1989 ). Phong trào kháng chiến của Afghanistan bắt nguồn từ hỗn loạn và khởi đầu, những lãnh chúa trong khu vực đã triển khai hầu hết tổng thể những cuộc giao tranh tại địa phương. Khi cuộc chiến tranh ngày càng phức tạp, sự tương hỗ từ bên ngoài và sự phối hợp trong khu vực ngày càng tăng. Các đơn vị chức năng cơ bản của tổ chức triển khai và hành vi mujahideen liên tục phản ánh thực chất phi tập trung chuyên sâu cao của xã hội Afghanistan và những tổ chức triển khai can đảm và mạnh mẽ của những nhóm bộ lạc mujahideen và Pashtun cạnh tranh đối đầu nhau, đặc biệt quan trọng là ở những khu vực khác biệt giữa những ngọn núi. [ 24 ] Cuối cùng, bảy đảng mujahideen chính đã liên minh thành khối chính trị có tên gọi là Thống nhất Hồi giáo Afghanistan Mujahideen. Tuy nhiên, những phe phái này không chịu sự chỉ huy duy nhất và có sự độc lạ về ý thức hệ .

Nhiều người Hồi giáo từ các quốc gia khác đã hỗ trợ các nhóm mujahideen khác nhau ở Afghanistan. Một số nhóm cựu chiến binh này đã trở thành những người đóng vai trò quan trọng trong các cuộc xung đột sau này trong và khắp thế giới Hồi giáo. Osama bin Laden, xuất thân từ một gia đình giàu có ở Ả Rập Xê Út, là một nhà tổ chức và nhà tài chính lỗi lạc của một nhóm tình nguyện viên nước ngoài theo chủ nghĩa Hồi giáo toàn Ả Rập; Maktab al-Khadamat trong nhóm này đã vận chuyển tiền, vũ khí và các chiến binh Hồi giáo từ khắp nơi trên thế giới Hồi giáo vào Afghanistan, với sự hỗ trợ và hỗ trợ của chính phủ Ả Rập Xê Út và Pakistan.[25] Những chiến binh nước ngoài này được gọi là ” người Ả Rập Afghanistan ” và những nỗ lực của họ đã được Abdullah Yusuf Azzam điều phối.

Mặc dù mujahideen được tương hỗ bởi chính phủ nước nhà Pakistan, Mỹ, Trung Quốc và Ả Rập Xê Út, nguồn hỗ trợ vốn chính của mujahideen là những nhà hỗ trợ vốn tư nhân và những tổ chức triển khai từ thiện tôn giáo trên khắp quốc tế Hồi giáo – đặc biệt quan trọng là ở Vịnh Ba Tư. Jason Burke kể lại rằng ” chỉ có 25 % số tiền cho cuộc thánh chiến Afghanistan thực sự được những vương quốc cung ứng trực tiếp. ” [ 26 ]Lực lượng Mujahideen đã gây ra thương vong nghiêm trọng cho những lực lượng Liên Xô, và khiến cho đại chiến này trở nên rất tốn kém so với Liên Xô. Năm 1989, Liên Xô rút lực lượng khỏi Afghanistan. Vào tháng 2 năm 1989, bảy phe phái Sunni mujahideen đã xây dựng nhà nước lâm thời Afghanistan ( AIG ) ở Peshawar, do Sibghatullah Mojaddedi chỉ huy, như một nỗ lực cho một mặt trận thống nhất chống lại DRA. AIG trở thành phe thất bại, một phần vì không xử lý được sự độc lạ giữa những phe phái ; một phần vì sự ủng hộ hạn chế của công chúng vì nó loại trừ những phe phái Shia mujahideen do Iran hậu thuẫn và loại trừ những người ủng hộ cựu Quốc vương Mohammed Zahir Shah ; và thất bại của mujahideen trong Trận Jalalabad vào tháng 3 năm 1989. [ 27 ] [ 28 ]Năm 1992, tổng thống sau cuối của DRA, Mohammad Najibullah, bị lật đổ và hầu hết những phe phái mujahideen đã ký Hiệp định Peshawar. Tuy nhiên, mujahideen không hề xây dựng một cơ quan chính phủ thống nhất công dụng, và nhiều nhóm mujahideen lớn hơn mở màn tranh giành quyền lực tối cao ở Kabul .Sau nhiều năm chiến đấu quyết liệt, tại một ngôi làng nhỏ Pashtun, một mullah tên là Mohammed Omar đã tổ chức triển khai một trào lưu vũ trang mới với sự hậu thuẫn của Pakistan. Phong trào này được gọi là Taliban ( ” sinh viên ” trong tiếng Pashto ), ám chỉ cách hầu hết những Taliban lớn lên trong những trại tị nạn ở Pakistan trong những năm 1980 và được dạy trong Wahhabi madrassas do Ả Rập Xê-út hậu thuẫn, những trường tôn giáo nổi tiếng với việc dạy cách diễn giải kinh Qu’ran theo chủ nghĩa chính thống của đạo Hồi .

Ngay cả trước khi độc lập, cộng đồng người Síp gốc Thổ Nhĩ Kỳ vẫn duy trì lực lượng bán quân sự của riêng mình (Türk Mukavemet Teşkilatı, hay TMT), do Quân đội Thổ Nhĩ Kỳ huấn luyện và trang bị. Năm 1967, lực lượng này được đổi tên thành Mücahit (“Mujahideen”), và năm 1975, Mücahit được đổi tên thành Lực lượng An ninh Síp Thổ Nhĩ Kỳ. Năm 1974, Thổ Nhĩ Kỳ dẫn đầu một cuộc xâm lược đất liền vào Bắc Síp với mục đích bảo vệ cộng đồng thiểu số Thổ Nhĩ Kỳ sau khi một cuộc đảo chính lấy cảm hứng từ Hy Lạp mang đến mối đe dọa về sự hợp nhất của đảo Síp với Hy Lạp. Kể từ đó, không có cuộc giao tranh lớn nào trên đảo Síp và quốc gia này tiếp tục là một quốc gia độc lập, mặc dù có liên kết chặt chẽ với Thổ Nhĩ Kỳ về mặt quân sự và chính trị.[29][30][31][32]

Iran và Iraq[sửa|sửa mã nguồn]

Trong khi hơn một nhóm ở Iran tự gọi mình là mujahideen, nhóm nổi tiếng nhất là Mujahedin của Nhân dân Iran ( PMOI ; tiếng Ba Tư : Mojāhedin-e Khalq ), một tổ chức triển khai xã hội chủ nghĩa Hồi giáo có trụ sở tại Iraq ( tích hợp những hệ tư tưởng Hồi giáo và Mác xít ) ủng hộ sự lật đổ ban chỉ huy của Cộng hòa Iran. [ 33 ] Nhóm này đã tham gia vào nhiều cuộc xung đột nổi tiếng trong khu vực, tham gia Cách mạng Iran năm 1979, Chiến tranh Iran-Iraq ( với tư cách là liên minh của người Iraq ), và trong những cuộc xung đột nội bộ của Iraq .

Một nhóm mujahideen khác là Mujahedin-e Islam, một đảng Hồi giáo do Ayatollah Abol-Ghasem Kashani lãnh đạo.[34] Nhóm này đã thành lập một phần của Mặt trận Quốc gia Iran trong thời gian Mohammed Mosaddeq quốc hữu hóa dầu mỏ, nhưng đã tách khỏi Mosaddeq vì các chính sách được cho là phi Hồi giáo của ông ta.[35]

Từ năm 1947 đến năm 1961, những mujahideen địa phương đã chiến đấu chống lại binh lính cơ quan chính phủ Miến Điện trong nỗ lực để bán đảo Mayu ở phía bắc Arakan, Miến Điện ( bang Rakhine, Myanmar ngày này ) hoàn toàn có thể ly khai khỏi quốc gia này, được cho phép nó hoàn toàn có thể bị Đông Pakistan ( lúc bấy giờ là Bangladesh ) thôn tính. [ 36 ] Trong cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960, những mujahideen đã mất hầu hết động lực và sự tương hỗ của họ, dẫn đến phần nhiều trong số họ đầu hàng những lực lượng cơ quan chính phủ. [ 37 ] [ 38 ]Trong những năm 1990, Tổ chức Đoàn kết Rohingya được vũ trang là thủ phạm chính của những cuộc tiến công nhằm mục đích vào chính quyền sở tại Miến Điện ở biên giới Bangladesh – Myanmar. [ 39 ] Năm 1969, stress chính trị và thù địch công khai minh bạch đã tăng trưởng giữa nhà nước Philippines và những nhóm phiến quân thánh chiến. [ 40 ] Mặt trận Giải phóng Quốc gia Moro ( MNLF ) do giáo sư Nur Misuari của Đại học Philippines xây dựng để lên án vụ giết hại hơn 60 người Hồi giáo Philippines và sau đó trở thành kẻ xâm lược chống lại chính phủ nước nhà trong khi Mặt trận Giải phóng Hồi giáo Moro ( MILF ), một nhóm tách từ MNLF, được xây dựng để tìm kiếm một nhà nước Hồi giáo bên trong Philippines với đặc thù cực đoan hơn và hung hãn hơn. Xung đột giữa nhóm và nhà nước đang diễn ra ; Số liệu thống kê về thương vong khác nhau so với cuộc xung đột tuy nhiên những ước tính thận trọng của Chương trình Dữ liệu Xung đột Uppsala chỉ ra rằng tối thiểu 6.015 người đã thiệt mạng trong cuộc xung đột vũ trang giữa nhà nước Philippines và những phe ASG, BIFM, MILF và MNLF từ năm 1989 đến năm 2012. [ 41 ] Abu Sayyaf là một nhóm ly khai Hồi giáo ở miền nam Philippines, được xây dựng vào năm 1991. Nhóm này được biết đến với những vụ bắt cóc công dân phương Tây và người Philippines, đổi lại nhóm này đã nhận được một số ít khoản tiền chuộc lớn. Một số thành viên Abu Sayyaf đã học tập hoặc thao tác tại Ả Rập Xê-út và tăng trưởng quan hệ với những thành viên mujahideen trong khi chiến đấu và giảng dạy trong đại chiến chống Liên Xô xâm lược Afghanistan. [ 42 ]

ĐÁNH GIÁ post
Bài viết liên quan

Tư vấn miễn phí (24/7) 094 179 2255