Lựu đạn – Wikipedia tiếng Việt

Lựu đạn là một loại vũ khí được ném bằng tay hoặc được phóng ra từ súng phóng lựu, chúng được trang bị để tiêu diệt sinh lực và phương tiện của địch ở cự ly gần.

Xuất hiện từ thế kỷ 16. Nó có nguồn gốc từ Trung Quốc thời nhà Tống

Theo phương pháp phóng lựu đạn:

  • Lựu đạn cầm tay: là lựu đạn được ném bằng tay, đánh địch ở cự ly rất gần.
  • Lựu đạn phóng từ ống phóng lựu: là lựu đạn được phóng từ súng phóng lựu, tiêu diệt mục tiêu ở cự ly gần hơn so với các loại vũ khí khác nhưng xa hơn so với cự ly của lựu đạn cầm tay.

Theo công dụng

  • Lựu đạn chống bộ binh (lựu đạn phá mảnh);
  • Lựu đạn chống tăng.
  • Lựu đạn đặc biệt (cháy, khói, hóa học, hơi cay…);

Một số loại lựu đạn nổi bật[sửa|sửa mã nguồn]

– Tính năng : Dùng để hủy hoại bộ binh bằng mảnh gang vụn .Các thông số kỹ thuật kỹ thuật :- Cao : 98 mm ( hàng loạt )- Đường kính : 50 mm- Trọng lượng hàng loạt : 450 g- Trọng lượng thuốc nố TNT : 45 g- Thời gian cháy chậm : 3,2 – 4,2 giây- Bán kính sát thương : 3 mNguyên tắc hoạt động giải trí :- Lựu đạn F1 ở tư thế thông thường chốt bảo đảm an toàn giữ mỏ vịt không cho mỏ vịt bật lên, đầu mỏ vịt giữ đuôi kim hỏa, kim hỏa ép lò xo lại .
M67 lựu đạn phân mảnh, một loại lựu đạn cầm tay hiện đại (từ năm 1968 đến nay) của Mỹ.

-Khi rút chốt an toàn đuôi kim hỏa bật lên đầu mỏ vịt rời khỏi đuôi kim hỏa, lò xo kim hỏa bung ra đẩy kim hỏa chọc vào hạt lửa, hạt lửa đốt cháy thuốc cháy chậm, khi thuốc cháy hết phụt lửa vào kíp làm nổ kíp nổ lựu đạn.

  • Lựu đạn chày của Việt Nam

– Tính năng : Dùng để hủy hoại bộ binh bằng mảnh gang vụn và sức ép khí thuốc .Các thông số kỹ thuật kỹ thuật :- Trọng lượng hàng loạt : 530 g- Thời gian cháy chậm : 4 – 5 giây- Bán kính sát thương : 3 mLựu đạn gồm hai bộ phận chính :- Thân lựu đạn : Cán lựu đạn bằng gỗ, nắp phòng ẩm, vỏ lựu đạn bằng gang, bên trong là thuốc nổ TNT .- Bộ phận gây nổ ở bên trong chính giữa thân lựu đạn : dây nụ xòe, nụ xòe cháy chậm, kípNguyên tắc hoạt động giải trí :- Khi giật dây nụ xòe, nụ xòe phát lửa đốt cháy dây cháy chậm, dây cháy chậm cháy trong khoảng chừng 4 – 5 s. Khi dây cháy chậm cháy hết, phụt lửa vào kíp nổ, gây nổ lựu đạn .

Trong văn hóa truyền thống[sửa|sửa mã nguồn]

  • Một số người du thủ, du thực quậy phá… thường đặt kèm tên của mình trước tên lựu đạn, như A. Lựu đạn, H. Lựu đạn
  • Ở Nam Bộ Việt Nam, từ than “lựu đạn quá”.. dùng để chỉ sự lì lợm, liều lĩnh.
  • Ngoài ra, từ lóng “quăng lựu đạn” còn để chỉ về những người đang cố gắng phô trương về những gì không có thật, những kẻ “ba hoa chích chòe”, hoặc những kẻ đang thể hiện quá mức khả năng thực tế của chính mình. Giới trẻ ngày nay còn hay nói câu “năng lực thì có hạn mà lựu đạn thì có thừa”.

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Seven ceramic hand grenades of the 17th Century found in Ingolstadt Germany

lan gu huo you shen pao) from the Huolongjing. The black dots represent iron pellets.An illustration of a fragmentation bomb known as the ‘ divine bone dissolving fire oil bomb ‘ ( ) from the. The black dots represent iron pellets . One of the earliest modern hand grenades. Fielded in the British Army from 1908, it was unsuccessful in the trenches of World War I, and was replaced by the Mills bomb Demonstration of a German stielhandgranate ( shaft hand grenade ), a high explosive grenade with time fuze, the Netherlands, 1946 .

ĐÁNH GIÁ post
Bài viết liên quan

Tư vấn miễn phí (24/7) 094 179 2255