Escherichia coli – Wikipedia tiếng Việt

Escherichia coli (viết tắt: E. coli) là một loài vi khuẩn Gram âm, phân bố rất rộng trong môi trường sống trên Trái Đất, hay có mặt ở thực phẩm, nguồn nước, thường kí sinh trong ruột già của người và hầu hết các loài Thú đẳng nhiệt.[1][2][3] Đa số các chủng E. coli là vô hại mặc dù kí sinh, chỉ một số dòng có thể gây ngộ độc thức ăn, gây bệnh đường ruột.[4][5] Trong những trường hợp nhất định, chúng còn giúp vật chủ nhờ sản xuất vitamin K2,[6] và chống sự xâm lấn của một vài mầm bệnh khác, tạo nên một mối quan hệ cộng sinh.[7][8]

E. coli thường được nhắc đến chủ yếu vì nó là loài sinh vật mô hình rất quan trọng trong Sinh học hiện đại, đặc biệt trong Di truyền phân tử. Ngoài ra, sự có mặt của chúng trong nguồn nước là một chỉ tiêu quan trọng để đo độ sạch của nước, do E. coli bị thải ra môi trường qua phân, có khả năng tiếp tục tạo nên các quần thể sống tự do, sinh trưởng mạnh trong phân tươi ở điều kiện hiếu khí vài ba ngày rồi mới giảm tăng trưởng.[9][10]

Lịch sử phát hiện[sửa|sửa mã nguồn]

  • Theodor Escherich là người đầu tiên phát hiện ra loài vi khuẩn này trong quá trình điều trị và nghiên cứu về các trẻ bị bệnh tiêu chảy vào năm 1885. Vì loài này kí sinh trong ruột già (tiếng Latinh là colum), nên ông đặt tên nó là Bacterium coli (vi khuẩn côli). Ông báo cáo phát hiện này vào năm 1885, trong thuyết trình của mình nhan đề “Vi khuẩn đường ruột ở trẻ sơ sinh” cho Hiệp hội Hình thái và Sinh lý học. Đến năm 1886, sau 18 tháng nghiên cứu, ông cho xuất bản cuốn sách với tựa đề “Darmbakterien des Säuglings und ihre Beziehungen zur Physiologie der Verdauung”. Xem chi tiết thêm ở trang Theodor Escherich.
  • Sau khi Theodor Escherich mất (năm 1911), các nhà khoa học đã đổi tên loài này khá nhiều lần, rồi đến năm 1919 thì được gọi thống nhất toàn thế giới là Escherichia coli (phát âm Quốc tế: /ˌɛʃəˈrɪkiə ˈkoʊlaɪ/, tiếng Việt: ê-sơ-ric-kiơ cô-li), để vinh danh ông tìm ra loài này đầu tiên.[11]
  • Kể từ khi loài này được phát hiện cho đến nay số lượng các nghiên cứu về loài này tăng lên liên tục và không ngừng, dẫn đến nhiều giải Nobel là vinh dự cao nhất của khoa học. Dưới đây là danh sách những khám phá có giá trị liên quan đến vi khuẩn E. coli.[12]

năm ngoái : Giải Nobel Hóa học năm năm ngoái được trao cho Tomas Lindahl, Paul Modrich và Aziz Sancar ” cho những điều tra và nghiên cứu cơ học về sửa chữa thay thế DNA ” khi điều tra và nghiên cứu về Escherichia coli .

2008: Prôtêin huỳnh quang xanh dùng đánh dấu theo dõi các thành phần của tế bào vi khuẩn.

1999 : Các chuỗi tín hiệu trên prôtêin biểu lộ phương pháp tế bào tự tổ chức triển khai .1997 : Phương thức tế bào tạo ra ATP – nguồn năng lượng của sự sống .1989 : Vai trò bổ trợ của RNA .1980 : Tái tổng hợp DNA .1978 : Các enzym số lượng giới hạn có vai trò như chiếc ” kéo ” được cho phép những nhà khoa học cắt DNA .

1969: Sự nhân lên của virus trong tế bào vật chủ.

1968 : Hoàn thiện về mã di truyền, ” ngôn từ ” của DNA .1965 : Điều hoà gen : gen được ” bật ” hoặc ” tắt ” như thế nào .1959 : Cơ chế nhân đôi DNA, nhờ đó sự sống được chuyển giao cho đời sau .1958 : Giới tính ở vi trùng và phương pháp vi trùng san sẻ gen với nhau .

Những nghiên cứu về loài vi khuẩn này nhiều đến mức không chỉ dẫn đến các thành tựu nổi bật đã liệt kê ở trên, mà còn tạo ra một bộ môn được coi như là một nhánh quan trọng của ngành Sinh học gọi là Sinh học E. coli (Escherichia coli Biology), bao gồm các kiến thức từ mô tả hình thái, sinh lý theo kiểu cổ điển cho đến thành phần sinh hoá, hoạt động của bộ gen ở cấp độ phân tử trong Di truyền học phân tử và Sinh hoá học của loài này.

ĐÁNH GIÁ post
Bài viết liên quan

Tư vấn miễn phí (24/7) 094 179 2255