Crete – Wikipedia tiếng Việt

Crete
Knossos R01.jpgCung điện Minoan tại Knossos.
Địa lý
Crete location map.png
Tọa độ
Tổng số đảo 80+
Diện tích 8.336 km²
Điểm cao nhất Núi Psiloritis (2.456)
Chính quyền
Hy Lạp
Thành phố lớn nhất Heraklion
Nhân khẩu học
Dân số 623.666 (tính đến năm 2005)

Crete (tiếng Hy Lạp: Κρήτη, hiện đại: Kríti, cổ đại: Krḗtē; tiếng Latinh: Creta) là đảo lớn nhất và đông dân nhất của Hy Lạp, và là đảo lớn thứ năm tại Địa Trung Hải, đồng thời cũng là một trong 13 vùng của Hy Lạp. Hòn đảo có ý nghĩa lớn trong kinh tế và di sản văn hóa của Hy Lạp song vẫn duy trì các đặc điểm văn hóa địa phương (như phương ngữ Crete, thi ca và âm nhạc). Crete là trung tâm của văn minh Minoan (c. 2700–1420 TCN), nền văn minh có trình độ phát triển cao đầu tiên tại châu Âu, và là nền văn minh đã tạo nên các cung điện đầu tiên của châu Âu.[1]

Hòn đảo lần đầu tiên được đề cập đến với tên gọi Kaptara trong các văn bản từ thành phố Mari của Syria có niên đại từ thế kỷ 18 TCN,[2] được lặp lại sau đó trong các ghi chép của Tân Assyria và Kinh thánh (Caphtor). Đảo được biết đến tại Ai Cập cổ đại là Keftiu, cả hai đều tương tự như tên Minoan của đảo.[3]

Tên tiếng Hy Lạp Mycenaea của Crete không được biết; nó không được nêu trong các văn bản văn tự tuyến hình B còn lại cho đến nay. Tên gọi Crete (Κρήτη) làn đầu tiên được đề cập tới là trong sử thi Odyssey của Homer.[4] Từ nguyên của nó không rõ. Một suy đoán cho rằng nó có nguồn gốc từ tiếng Luwian *kursatta (kursawar “đảo”, kursattar “cắt, miếng”).[5] Trong tiếng Latinh, tên của đảo trở thành Creta.

Tên gốc tiếng Ả Rập của Crete là Iqrīṭiš (tiếng Ả Rập: اقريطش‎ < (της) Κρήτης), nhưng sau khi Tiểu vương quốc Crete được thành lập với kinh đô mới đặt tại ربض الخندق Rabḍ al-ḫandaq (nay là Iraklion), cả thành phố và đảo đều được gọi là Χάνδαξ (Khandhax) hay Χάνδακας (Khandhakas). Dưới thời đế chế Ottoman, trong tiếng Thổ Ottoman, Crete được gọi là Girit (كريت).

Crete là hòn đảo lớn nhất tại Hy Lạp và là hòn đảo lớn thứ hai ở phía đông của Địa Trung Hải ( sau Síp ). Đảo nằm ở phía nam của biển Aegea tách biển Aegea với biển Libya .Hòn đảo có hình thon dài : lê dài 260 km ( 160 mi ) từ đông sang tây, điểm rộng nhất là 60 km ( 37 mi ), và điểm hẹp nhất là 12 km ( 7,5 mi ) ( gần Ierapetra ). Crete có diện tích quy hoạnh 8.336 km2 ( 3.219 dặm vuông Anh ), với đường bờ biển dài 1.046 km ( 650 mi ) ; ở phía bắc, nó giáp với biển Crete ( tiếng Hy Lạp : Κρητικό Πέλαγος ) ; và ở phía nam là biển Libya ( tiếng Hy Lạp : Λιβυκό Πέλαγος ) ; ở phía tây là biển Myrtoan, và ở phía đông là biển Karpathion. Đảo nằm cách giao động 160 km ( 99 mi ) về phía nam của Hy Lạp đại lục .Crete có địa hình đồi núi, và có một dãy núi chạy từ đông sang tây, gồm ba nhóm núi khác nhau :

  • Dãy Trắng hay Lefka Ori 2.452 m (8.045 ft)
  • Dãy Idi (Psiloritis 2.456 m (8.058 ft)
  • Dãy Dikti 2.148 m (7.047 ft)

Crete trải dài trên hai vùng khí hậu, đa phần là Địa Trung Hải và một phần là Bắc Phi. Do vậy, khí hậu Crete đa phần là ôn đới. Bầu không khí khá khí ẩm, tùy thuộc vào vị trí gần hay xa biển, trong khi mùa đông khá êm dịu. Tuyết thường rơi trên những ngọn núi từ giữa tháng 11 và tháng 5, tuy nhiên hiếm khi thấy ở những vùng thấp. Trong khi những đỉnh núi cao bị tuyết bao trùm cả năm thì vùng gần biển tuyết chỉ hoàn toàn có thể ở lại trên mặt đất một vài phút hoặc vài giờ. Tuy nhiên, một đợt lạnh vào tháng 2 năm 2004 đã khiến hàng loạt hòn hòn đảo bị tuyết bao trùm. Vào mùa hè tại Crete, nhiệt độ giao động từ 20 °C đến dưới 30 °C, và tối đa hoàn toàn có thể lên tới trên 30 °C hay thậm chí còn 40 °C .Bờ biển phía nam, gồm có đồng bằng Mesara và dãy núi Asterousia, nằm trong vùng khí hậu Bắc Phi, và do đó chịu ảnh hưởng tác động đáng kể với những ngày nắng và nhiệt độ cao trong suốt năm. Tại đây, cọ chà là đâm hoa hiệu quả, và nhạn sinh sống quanh năm chứ không di cư sang châu Phi. Khu vực phì nhiêu quanh Ierapetra, ở góc đông nam của hòn đảo, hoàn toàn có thể sản xuất nông nghiệp quanh năm, với toàn bộ những loại rau mùa hè và hoa quả được trồng trong nhà kính suốt mùa đông .
Crete là hòn đảo đông dân nhất của Hy Lạp với trên 600.000 người. Xấp xỉ 42 % dân cư sống tại những thành phố và thị xã chính của hòn đảo trong khi 45 % sống tại những khu vực nông thôn. [ 6 ]

Crete cùng với các đảo nhỏ lân cận tạo nên vùng Crete (tiếng Hy Lạp: Περιφέρεια Κρήτης), một trong 13 vùng của Hy Lạp được thành lập theo đợt cải cách đơn vị hành chính vào năm 1987.[7] Theo kế hoạch Kallikratis năm 2010, quyền hạn của vùng được xác định lại và mở rộng. Thủ phủ của vùng đặt tại Heraklion và vùng được chia thành bốn đơn vị thuộc vùng (trước kế hoạch-Kallikratis là các quận). Từ tây sang đông là: Chania, Rethymno, Heraklion và Lasithi. Chúng được chia tiếp thành 24 khu tự quản.

Các vũ công đến từ SfakiaNgười dân trên hòn đảo nói phương ngữ Crete của tiếng Hy Lạp với nhiều từ vựng đặc trưng của hòn đảo. Crete hoàn toàn có thể loại thi ca Mantinada riêng không liên quan gì đến nhau. Đảo được biết đến với nền âm nhạc dựa trên những tác phẩm thi ca Mantinada và nhiều điệu nhảy múa địa phương, đáng quan tâm nhất trong đó là Pentozali .Các tác gia người Crete đã có góp phần quan trọng cho văn học Hy Lạp trong suốt thời kỳ văn minh ; những tên tuổi chính gồm Vikentios Kornaros, tác giả của sử thi lãng mạn Erotokritos ( tiếng Hy Lạp : Ερωτόκριτος ) vào thế kỷ 17, và đến thế kỷ 20 có tác gia Nikos Kazantzakis. Vào thời Phục hưng, Crete có những trường Crete về hội họa tượng thánh, ảnh hưởng tác động đến El Greco và trải qua ông là với nền hội họa châu Âu .Xã hội Crete có những mái ấm gia đình nổi tiếng và những mối thù truyền kiếp giữa những gia tộc vẫn còn lại trên hòn đảo cho đến nay. [ 9 ] [ 10 ] Người Crete cũng có truyền thống cuội nguồn giữ súng ở nhà, một truyền thống cuội nguồn có từ thời kỳ kháng chiến chống lại đế chế Ottoman. Gần như mọi hộ mái ấm gia đình tại vùng nông thôn của Crete đều chiếm hữu một khẩu súng không ĐK. [ 9 ] Việc chiếm hữu súng được cơ quan chính phủ Hy Lạp pháp luật khắt khe, tuy nhiên những cơ quản có thẩm quyền nhắm mắt làm ngơ, gật đầu cho họ chiếm hữu súng theo truyền thống cuội nguồn .
Nền kinh tế tài chính của Crete hầu hết dựa vào nông nghiệp và là một trong số ít những hòn hòn đảo của Hy Lạp có nền kinh tế tài chính độc lập mà không cần phải dựa vào du lịch. [ 11 ] Nền kinh tế tài chính đã khởi đầu biến hóa rõ ràng vào thập niên 1970 khi du lịch đạt được tầm quan trọng nhất định. Trong khi trồng trọt và chăn nuôi vẫn có tầm quan trọng, tuy nhiên do khí hậu và thổ nhưỡng trên hòn đảo, đã có sự sụt giảm trong sản xuất và cùng với đó là sự lan rộng ra đáng kể của những ngành dịch vụ. Tất cả ba nghành trong nền kinh tế tài chính Crete ( nông nghiệp, chế biến-đóng gói, dịch vụ ), đều liên kết trực tiếp và nhờ vào lẫn nhau. Thu nhập trung bình của hòn đảo cao hơn nhiều so với mức trung bình của Hy Lạp, trong khi tỉ lệ thất nghiệp cũng thấp hơn .Cũng như nhiều khu vực của Hy Lạp, nghề trồng nho và ô liu khá quan trọng ; cam và thanh yên cũng được trồng. Cho đến gần đây, có những hạn chế về việc nhập khẩu chuối đến Hy Lạp, do đó chuối cũng được trồng trên hòn đảo, đa phần là trong nhà kính. Các mẫu sản phẩm từ sữa có vai trò quan trọng trong kinh tế tài chính địa phương và có một số ít loại pho mát đặc sản nổi tiếng như mizithra, anthotyros, và kefalotyri .
Bãi biển cọ tại Vai, Crete

Hòn đảo có ba sân bay chính, Nikos Kazantzakis tại Heraklion, Daskalogiannis tại Chania và một sân bay nhỏ hơn tại Sitia. Hai sân bay đầu có các đường bay quốc tế, và là cửa ngõ khi các du khách đến với hòn đảo.

Hòn đảo có những tuyến phà đa phần là liên kết với Athens do một số ít công ty quản lý và điều hành như Minoan Lines và ANEK Lines .
Mảnh vỡ bức bích họa của một nữ vũ công ( Knossos, 1600 – 1450 BC )Họ Người đã sống tại Crete tối thiểu là từ 130.000 năm trước. Vào hậu kỳ đồ đá mới và thời kỳ đồ đồng, dưới nền văn minh Minoan, Crete đã có một trình độ tăng trưởng cao, một nền văn minh có tri thức. Đảo được quản lý bởi những thực thể Hy Lạp cổ đại, đế quốc Đông La Mã, đế quốc Đông La Mã, Tiểu vương quốc Crete, Cộng hòa Venezia và đế chế Ottoman. Sau một thời hạn ngắn tự chủ ( 1897 – 1913 ) dưới sự quản trị của chính phủ nước nhà lâm thời Crete, hòn đảo gia nhập vương quốc Hy Lạp. Đảo bị Đức Quốc xã xâm lược trong Chiến tranh Thế giới thứ 2 .

Thời tiền sử[sửa|sửa mã nguồn]

Cá thể người tiên phong đến định cư tại Crete là từ 130.000 năm trước, vào thời đại đồ đá cũ. [ 12 ] [ 13 ] [ 14 ] Các điểm định cư vào quá trình tiền đồ gốm của thời kỳ đồ đá mới vào thiên niên kỷ thứ 7 TCN, sử dụng gia súc, cừu, dê, lợn và chó cũng như những loại ngũ cốc và cây đậu đã được thuần hóa ; Knossos cổ là một trong những khu vực chính vào thời kỳ đồ đá mới ( và sau này là Minoan ). [ 15 ] Các điểm định cư vào thời đồ đá mới khác gồm có Kephala, Magasa, và Trapeza .

Văn minh Minoan[sửa|sửa mã nguồn]

Crete là TT của nền văn minh tân tiến tiên phong của châu Âu, Minoan ( c. 2700 – 1420 BC ). [ 1 ] Nền văn minh này được viết trong những văn bản mà đến nay vẫn không giải thuật được, chúng được gọi là văn tự tuyến hình A. Lịch sử Crete đầy rẫy những lịch sử một thời như Vua Minos, Thes eus, và Minotaur, được truyền khẩu qua những thi sĩ như Homer. Sự kiện phun trào núi lửa Minoa trên hòn đảo Thera đã tàn phá nền văn minh Minoa .

Văn minh Mycenea[sửa|sửa mã nguồn]

Bắt đầu từ năm 1420 TCN, nền văn minh Minoan bị nền văn minh Mycenae từ Hy Lạp đại lục tàn phá. Các mẫu văn bản cổ nhất được viết bằng tiếng Hy Lạp, được Michael Ventris nhận dạng, là những tài liệu bằng văn tự tuyến hình B từ Knossos, có niên đại xê dịch 1425 – 1375 TCN. [ 16 ]

La Mã quản lý[sửa|sửa mã nguồn]

Crete đã tham gia vào các cuộc chiến tranh Mithridatic, ban đầu đã đẩy lùi được cuộc tấn công của tướng La Mã Marcus Antonius Creticus vào năm 71 TCN. Tuy thế, một chiến dịch ác liệt trong ba năm đã sớm xảy ra sau đó dưới sự chỉ huy của Quintus Caecilius Metellus Creticus, trang bị với ba quân đoàn và Crete cuối cùng bị La Mã chinh phục vào năm 69 TCN, Metellus được ban tước hiệu “Creticus“. Gortyn trở thành thủ phủ của hòn đảo, và Crete trở thành một tỉnh của La Mã, cùng với Cyrenaica được gọi là Creta et Cyrenaica.

Đông La Mã – thời kỳ thứ nhất[sửa|sửa mã nguồn]

Crete được tách khỏi Cyrenaica khoảng chừng năm 297. Đảo vẫn là một phần của đế quốc La Mã, và đế quốc Đông La Mã sau năm 600 SCN. Crete đã phải hứng chịu một cuộc tiến công từ người Vandal vào năm 467, những trận động đất lớn vào những năm 365 và 415, một cuộc tiến công của người Slav năm 623, những cuộc tiến công của người Ả Rập vào năm 654 và thập niên 670, và tiếp nối vào thế kỷ thứ 8. Khoảng năm 732, Hoàng đế Leo III đã chuyển hòn hòn đảo từ khoanh vùng phạm vi quyền lực tối cao của Giáo hoàng sang Tổng chủ giáo thính Constantinopolis. [ 17 ]

Tiểu vương quốc Crete[sửa|sửa mã nguồn]

Vào thập niên 820, khi Crete là một phần của Đế quốc Đông La Mã, hòn đảo đã bị người Ả Rập do Abu Hafs đứng đầu lấn chiếm [ 18 ] và họ đã lập nên Tiểu vương quốc Crete. Đông La Mã đã phát động một chiến dịch để tái chiếm hòn hòn đảo vào những năm 842 và 843 dưới quyền Theoktistos và đạt được một số ít thành công xuất sắc. Các chiến dịch của Đông La Mã liên tục vào những năm 911 và 949 tuy nhiên đã thất bại. Năm 960 / 1, chiến dịch của Nikephoros Phokas đã tịch thu thành công xuất sắc Crete về tay Đông La Mã .

Đông La Mã – thời kỳ thứ hai[sửa|sửa mã nguồn]

Năm 961, Nikephoros Phokas đã đưa hòn hòn đảo quay trở lại với quyền quản lý của Đông La Mã sau khi trục xuất những người Ả Rập. [ 19 ] Năm 1204, cuộc Thập tự chinh lần thứ 4 đã khiến kinh đô Constantinopolis bị chiếm và cướp phá. Crete trong bước đầu nằm dưới quyền chỉ huy của Boniface của Montferrat [ 19 ] trong việc phân vùng những chiến lợi phẩm sau đó. Tuy nhiên, Boniface đã bán chủ quyền lãnh thổ của mình cho Cộng hòa Venezia, [ 19 ] thế lực chiếm hầu hết trong cuộc Thập tự chinh. Đối thủ của Venezia, Cộng hòa Genova đã ngay lập tức chiếm giữa hòn hòn đảo và cho đến tận năm 1212, hòn đảo mới trở thành một thuộc địa của Venezia .

Venezia quản lý[sửa|sửa mã nguồn]

Cảng Chania từ thời VeneziaTừ năm 1212, trong suốt bốn thế kỷ dưới sự quản lý của Venezia, thời kỳ Phục hưng đã quét qua hòn hòn đảo, vật chứng rõ ràng nhất là những tác phẩm thẩm mỹ và nghệ thuật có niên đại trong khoảng chừng thời hạn này. Được biết đến với cái tên phe phái Crete hay Nghệ thuật hậu Byzantine, nó là một trong những sự thăng hoa ở đầu cuối cùng của thẩm mỹ và nghệ thuật truyền thống cuội nguồn. Các đại diện thay mặt đáng chú ý quan tâm nhất của thời kỳ Phục hưng Crete là họa sỹ El Greco và nhà văn Nicholas Kalliakis ( 1645 – 1707 ), Georgios Kalafatis ( 1652 – 1720 ), Andreas Musalus ( 1665 – 1721 ) và Vitsentzos Kornaros. [ 20 ] [ 21 ] [ 22 ]Dưới sự quản lý của Venezia, một thế lực Công giáo, Candia được coi là thành phố vững chãi nhất tại phía đông của Địa Trung Hải. [ 23 ] Ba pháo đài trang nghiêm chính được đặt tại Gramvousa, Spinalonga, và Fortezza. Các công sự khác gồm có pháo đài trang nghiêm Kazarma. Năm 1492, những người Do Thái bị trục xuất từ Tây Ban Nha đã đến định cư trên hòn đảo. [ 24 ] Năm 1574 – 77, Crete nằm dưới quyền quản trị của Giacomo Foscarini. Theo Starr ( 1942 ), thời kỳ quản trị của Giacomo Foscarini là những năm đen tối so với người Do Thái và Hy Lạp. Khi đó, những người không theo Công giáo phải nộp thuế cao và không có chiết khấu. Năm 1627, có 800 người Do Thái tại Candia, tức 7 % dân số của thành phố. [ 25 ]

Ottoman quản lý[sửa|sửa mã nguồn]

Người Ottomans đã chinh phục Crete vào năm 1669, sau cuộc bao vây Candia. Nhiều người Hy Lạp tại Crete đã đào thoát đến các khu vực khác của Cộng hòa Venezia sau các cộc chiến tranh Ottoman–Venezia, một số thậm chí còn trở nên thịnh vượng như gia đình Simone Stratigo (1733 – 1824), họ đã nhập cư đến Dalamatia từ Crete vào năm 1669.[26]. Hầu hết người Hồi giáo Crete là những người Hy Lạp bản địa cải đạo, họ nói tiếng Hy Lạp Crete, song trong bối cảnh chính trị vào thế kỷ 19 tại đảo, họ được người Thổ nhìn nhận là người Thiên Chúa giáo.[27] Các ước tính đương thời có sự khác biệt, song vào đêm trước của Chiến tranh giành độc lập Hy Lạp, có thể 45% dân cư của đảo là người Hồi giáo.[28] Số người theo phái Sufi phân bổ rộng khắp hòn đảo, Bektashi là phổ biến nhất, có ít nhất năm tekkes. Nhiều người trong số họ nguyên là Ki-tô hữu và đã cải đạo trở lại trong những năm tiếp sau, trong khi nhiều người khác rời khỏi Crete vì tình trạng bất ổn, định cư tại Thổ Nhĩ Kỳ, Rhodes, Syria và các nơi khác. Đến năm 1900, 11% dân cư của đảo là người Hồi giáo. Số còn lại này được tái định cư theo thỏa thuận Trao đổi dân cư giữa Hy Lạp và Thổ nhĩ Kỳ vào năm 1924.

Nhà nước Crete[sửa|sửa mã nguồn]

Crete được một lực lượng quốc tế đồn trú, với một Cao ủy (Armostis) do chính phủ Hy Lạp lựa chọn là Alexandros Zaimis. Hòn đảo bị phân chia thành bốn phần cho bốn thế lực chính vào thời gian đó là Ý, Nga, Anh và Pháp, các khu vực chiếm đóng tương ứng là Chania, Rethymnon, Heraklion và Lasithi. Crete thống nhất với Hy Lạp vào ngày 1 tháng 12 năm 1913.

Thế chiến II[sửa|sửa mã nguồn]

Trong Thế chiến II, hòn đảo là nơi đã diễn ra trận Crete nổi tiếng vào tháng 5 năm 1941. Các lính nhảy dù trên không người Đức đã có 7.000 thương vong, gặp phải sự kháng cự kinh khủng từ Khối Thịnh vượng chung Anh và người dân địa phương, do tướng Bernard Freyberg chỉ huy. Kết quả là, Adolf Hitler đã ngăn cấm những hoạt động giải trí bằng đường không có quy mô lớn hơn. Trong thời hạn chiếm đóng, quân Đức thường hành quyết những thường dân là phái mạnh khi họ ngẫu nhiên tụ tập tại những ngôi làng nhằm mục đích trả thù cho những binh lính Đức, như tại Kondomari .

  • Panagiotakis, Nikolaos M. (1987). “Εισαγωγικό Σημείωμα (“Introduction”)”. Trong Panagiotakis, Nikolaos M. (biên tập). Crete, History and Civilization (bằng tiếng Hy Lạp). I. Vikelea Library, Association of Regional Associations of Regional Municipalities. tr. XI–XX.

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

ĐÁNH GIÁ post
Bài viết liên quan

Tư vấn miễn phí (24/7) 094 179 2255